1. Tableau Business Intelligence

Các sơ đồ phân tích kinh tế

Discussion in 'Quản trị doanh nghiệp' started by bsdinsight, Dec 2, 2017.

  1. bsdinsight

    bsdinsight Well-Known Member

    Trên thế giới, những lý luận và nghiên cứu về kinh tế đã được các nhà kinh tế quan tâm, đúc kết thành những bài học quí giá, rất nhiều những bài học này được áp dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế. Một trong số những kiến thức đó có 3 sơ đồ phân tích kinh tế hết sức phổ biến gồm: Cấu trúc phân tích SWOT, Ma trận (hay còn gọi là sơ đồ) Boston, Ma trận Ansoff. Đây là những mô hình phân tích hết sức thiết thực phù hợp với việc nghiên cứu phân tích thư viện cũng như đối với các sản phẩm và dịch vụ thư viện.

    1. Cấu trúc phân tích SWOT

    Cấu trúc phân tích SWOT được hình thành từ một nghiên cứu của Stanford Research Institute từ năm 1960 đến 1970 với mục đích là tìm ra các nguyên nhân thất bại của các kế hoạch hợp tác. Albert S. Humprey (1926-2005) được coi là cha đẻ của cấu trúc này. Cấu trúc phân tích SWOT là một mô hình phân tích nổi tiếng của giới kinh doanh, doanh nghiệp viết tắt bởi bốn chữ cái đầu - 4 yếu tố then chốt - trong đó, doanh nghiệp luôn luôn phải xác định các thế mạnh và xu thế phát triển để nắm bắt cơ hội, hoạch định kế hoạch kinh doanh, bao gồm: Strengths: Điểm mạnh, Weeknesses: Điểm yếu, Opportunities: Cơ hội, Threats: Đe dọa... Các yếu tố này được xác định tùy theo từng đơn vị, theo loại hình đối tượng phân tích, một điểm mạnh cũng có thể trở thành một điểm yếu cũng như một cơ hội có thể biến thành một nguy cơ [1,2,3,8,11]. Do đó mọi yếu tố đều có thể có tính tương đối. Đây là cấu trúc đầu tiên được gợi ý cho việc áp dụng phân tích thư viện.

    Cấu trúc SWOT, thường được thể hiện trên một bảng gồm 4 ô như sau:

    Phan tich SWOT-02-02.jpg

    2. Ma Trận Boston

    Ma trận Boston (hay sơ đồ Matrix) là một công cụ tích cực, cụ thể hơn cho các đơn vị tham khảo. Ma trận Boston còn được gọi là Ma trận BCG viết tắt của The Growth-Share Matrix and Portfolio Analysis – là một biểu đồ do tác giả Bruce Henderson tạo ra cho tập đoàn Tư vấn Boston (Boston Consultin Group) năm 1968 để giúp tập đoàn này phân tích chiến lược kinh doanh và các sản phẩm. Đây cũng là một sơ đồ rất hữu ích cho các lĩnh vực phân tích khác, giúp người sử dụng có thể phân tích thực trạng - tạo ra chiến lược phát triển tốt nhất cho các kế hoạch, là một phương thức tiếp cận ngắn và cụ thể nhất với việc xây dựng một chiế́n lược phát triển [8,11].

    Sản phẩm/ dịch vụ được đánh giá trên 4 tiêu chí:

    1. Dấu hỏi chấm – Sản phẩm / Dịch vụ mới vào thị trường (có thể gọi đây là điểm thử thách - TG). Các sản phẩm / dịch vụ mới khi vào thị trường thường đi qua điểm này. Lúc đó, sản phẩm có khả năng tăng trưởng rất nhanh và hứa hẹn nhiều triển vọng, song cũng đầy rủi ro. Do đó, biểu tượng của tiêu chí này đương nhiên là một dấu hỏi như tên của nó. Dù tăng nhanh hay không thì sản phẩm ở trong điểm này chỉ đạt được giá trị tăng trưởng, còn hứa hẹn và thực thu về tiền thì không có nhiều. Vì vậy, sản phẩm ở điểm này chỉ được đánh giá chính xác sau một thời gian thực tế đưa ra thị trường. Khi đó nó có thể trở thành một sản phẩm/ dịch vụ thế mạnh được chuyển tiếp sang điểm “ngôi sao” hoặc nó có thể bị loại bỏ ngay nếu không thành công.

    2. Ngôi sao – Biểu tượng cho các sản phẩm/ dịch vụ có thị trường đang phát triển tiềm năng và dễ dàng duy trì. Chúng ta có thể gọi đây là điểm tăng trưởng nên cần nắm bắt và xây dựng những “ngôi sao” đó. Khi các sản phẩm / dịch vụ của điểm “ngôi sao” được phát triển và duy trì bền vững thì các sản phẩm này sẽ chuyển sang điểm tiếp theo là “bò sữa” để tạo lập các “ngôi sao” mới.

    3. Bò sữa – Sản phẩm/ dịch vụ chiếm thị phần lơń trong một thị trường tăng trưởng chậm. Đây là sản phẩm / dịch vụ có giá trị dài hạn. Các sản phẩm ở điểm này khi đã phát triển trong một thời gian dài cần phải luôn luôn được xem xét, đánh giá và củng cố bởi theo quy luật chúng có thể trở nên lỗi thời, bị dịch chuyển, thậm chí bị loại bỏ.

    4. Con chó – Sản phẩm / dịch vụ chiếm thị phần thấp trong một thị trường kém tăng trưởng. Sản phẩm / dịch vụ lạc hậu, lỗi thời không đem lại hiệu quả mà vẫn tiêu tốn năng lượng. Thời điểm này chúng ta nên xem xét việc loại bỏ các sản phẩm kém hiệu quả để tập trung cho những sản phẩm / dịch vụ mới. Một sản phẩm nếu có nguy cơ chuyển từ điểm “bò sữa” sang điểm “con chó” này thì nhà quản lý cũng cần phải có sự đầu tư thích đáng để khôi phục sản phẩm.

    Sơ đồ ma trận Boston được thể hiện như sau:
    004.jpg

    3. Ma trận Ansoff

    Ma trận Ansoff là một sơ đồ về việc mở rộng và phát triển thị trường còn được gọi là Lưới mở rộng sản phẩm thị trường do H.Igor Ansoff đề xuất năm 1957. Ma trận Ansoff trình bày những cách thức phát triển của doanh nghiệp dựa trên hai biến số cơ bản là: Sản phẩm và thị trường. Ma trận chỉ ra bốn cơ hội (gọi tắt là 4 cơ hội Ansoff) mở rộng thị trường cho doanh nghiệp là [4]: Xâm nhập thị trường, phát triển sản phẩm, phát triển thị trường và đa dạng hóa. Trong đó các khái niệm được hiểu như sau:

    - Xâm nhập thị trường: việc bán sản phẩm hiện có vào thị trường hiện tại; thâm nhập thị trường hữu hiệu hơn; đưa sản phẩm ra thị trường nhiều hơn bằng cách mở thêm nhiều điểm bán hàng; mở rộng sản phẩm hiện có ra thị trường mới.

    - Phát triển thị trường: khai thác thêm thị trường mới chỉ với sản phẩm hiện có.

    - Phát triển sản phẩm: phát triển thêm sản phẩm mới vào thị trường hiện tại; bổ sung sản phẩm vào cùng với những sản phẩm hiện có để phục vụ nhu cầu thị trường.

    - Đa dạng hóa: sự phát triển sản phẩm mới để khai thác thị trường mới; đa dạng hoá hoạt động kinh doanh; tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp, đơn vị phát triển kinh doanh. Đa dạng hóa cũng hàm chứa nhiều rủi ro cho nhà kinh doanh khi tham gia vào một lĩnh vực hoàn toàn mới.

    Sơ đồ Ma trận Ansoff được trình bày như sau:
    Ansoff_Matrix.JPG
     
  2. Loading...


Share This Page