Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam

Discussion in 'Ngân hàng' started by bsdinsight, Apr 11, 2016.

  1. bsdinsight

    bsdinsight Well-Known Member

    competitive.jpg

    Về mặt bằng chung, ngành ngân hàng Việt Nam đã có nhiều tiến bộ khoảng 83 sản phẩm bán lẻ, 97 sản phẩm bán buôn. Tuy nhiên, trên thế giới số lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ có nhiều hơn và ở mức độ phát triển hơn, đặc biệt là những sản phẩm liên quan đến công nghệ cao, năng lực quản trị rủi ro thì sản phẩm dịch vụ, quản trị doanh nghiệp của chúng ta ở mức độ thấp hơn.

    • Dù thị trường tài chính Việt Nam đã bằng khoảng 150% GDP, nhưng nó chỉ ở quy mô như Phillipines, Ấn Độ. Do vậy, thị trường tài chính Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển
    • Ngoài ra, cơ cấu thị trường tài chính Việt Nam mất cân đối. Khoảng 75% là hệ thống ngân hàng, còn thị trường chứng khoán, trái phiếu thì vô cùng nhỏ bé.
    + Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam rất nhỏ bé, vào khoảng 32% GDP, trong khi ở khu vực, chẳng hạn Trung Quốc 98%, Indonesia 54%, Ấn Độ khoảng 86%. Vì vậy, Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển thị trường chứng khoán lên rất nhiều thì mới hi vọng đuổi kịp các quốc gia trong khu vực. Đây đuợc xem là yếu tố hội nhập quan trọng.

    + Tương tự, thị trường trái phiếu của Việt Nam còn khá èo uột bởi quy mô thị trường trái phiếu chỉ khoảng 20% GDP. Trong đó, chủ yếu là trái phiếu chính phủ, còn trái phiếu doanh nghiệp gần như chưa có gì, mới chỉ bằng khoảng 2% GDP. Đây cũng là một cái chúng ta cần phát triển trong thời gian tới.

    Vì vậy, Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài Chính phải định hướng chính sách, tạo điều kiện, thúc đẩy phát triển thị trường tài chính ở mức độ cân đối hơn so với các nước.

    • Hệ thống tín dụng Ngân hàng đối với nền kinh tế, hiện nay tương đương khoảng 100% GDP. Tất nhiên không phải ở mức độ quá cao, khi mà bình quân thế giới tín dụng Ngân hàng ở khoảng 125% GDP. Như vậy, tín dụng Ngân hàng vẫn là kênh rất quan trọng đối với bất kì nền kinh tế nào.
    Tuy Việt Nam đang có những hành động xử lý nợ xấu khá tích cực, nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc phải xử lý tiếp số nợ xấu mà VAMC mua về, hay những vướng mắc về pháp lý, thị trường mua bán nợ và tài sản đảm bảo. Nhưng kể cả khi nợ xấu còn 3% thì ở mức chấp nhận được nhưng vẫn khá cao.

    Về chi phí hoạt động của Ngân hàng Việt Nam hiện nay: tỉ lệ chi phí so với thu nhập năm 2013 là khoảng 62%, vẫn còn rất cao, vì các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, trong khi thông lệ quốc tế thì tỷ lệ này nên ở khoảng 43 – 45%. Rõ ràng, hệ thống ngân hàng phải tiếp tục xử lý nợ xấu và để giảm hệ số này xuống thì sau đó mới có thể tiếp tục giảm lãi suất trong thời gian tới. Về thu nhập ngoài lãi, thu nhập ngoài tín dụng của ngân hàng Việt Nam vào khoảng 26%, không quá thấp. Lí tưởng là khoảng 30 – 40%, nhưng có những nước phát triển, ví dụ Singapore năm 2013 đã đạt khoảng 63%. Việt Nam ở mức độ trung bình – khá về các hoạt động ngoài tín dụng. Khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng Việt Nam rất thấp trong 2-3 năm vừa qua. Nguyên nhân là do các ngân hàng phải trích lập rủi ro rất nhiều để xử lý nợ xấu, cho nên khả năng sinh lời chỉ khoảng 5% hoặc 5,5%. Một trong những lí do nữa là NIM (chênh lệch lãi suất đầu vào – đầu ra) của hệ thống ngân hàng hiện nay chỉ khoảng 3%, thấp nhất trong khu vực. Đặt trong bối cảnh hoạt động rất rủi ro và NIM thấp thì hệ thống ngân hàng đang gặp khó khăn rất nhiều, dẫn tới tỉ suất sinh lời khá khiêm tốn. Về rủi ro thanh khoản, tỷ số cho vay trên tổng huy động được có thời điểm lên đến 100%. Nhưng hiện nay tỉ lệ đó chỉ khoảng 84%, đây cũng là chỉ số hợp lý. Trung Quốc quy định trong luật rằng tỷ lệ này không được quá 75%. Tuy nhiên quy định này không còn phù hợp với tình hình thị trường hiện nay nữa và sẽ sớm xóa bỏ giới hạn này.

    Xét về hội nhập, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhỏ bé. Mặc dù hệ thống ngân hàng phát triển rất nhanh, Ngân hàng Nông Nghiệp được xem là lớn nhất Việt Nam hiện nay xét về quy mô tổng tài sản cũng rất nhỏ bé, chỉ khoảng 36 tỷ Mỹ kim, gần với các ngân hàng lớn của Philipines, còn so với Hàn Quốc, Singapore, Indonesia,… vẫn là một khoảng cách rất lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam là 31%, tuy đã tăng tốt trong thời gian vừa qua nhưng vẫn ở mức độ khiêm tốn, chỉ bằng 1/2 so với Trung Quốc (64% số lượng người trưởng thành có tài khoản ngân hàng). Như vậy, tiềm năng phát triển thị trường bán lẻ còn rất lớn. Thông qua số lượng chi nhánh ngân hàng, máy ATM hiện nay, NHNN và báo chí cho rằng Việt Nam có quá nhiều ngân hàng, nhưng không được phân bổ không đều. Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội có rất nhiều chi nhánh ngân hàng, phòng giao dịch, nhưng các vùng sâu vùng xa như miền núi xa xôi, hải đảo hay tỉnh lẻ thì rất thiếu mạng lưới ngân hàng. Về Internet Banking, Việt Nam đã cung cấp dịch vụ ở mức độ khá tốt. Hiện nay có khoảng 44% khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ Internet Banking – mức độ trung bình so với thế giới.

    Quản trị doanh nghiệp nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng của Việt Nam được chấm điểm rất thấp, mới bằng một nửa Thái Lan. Đây là điểm vô cùng quan trọng, mà Việt Nam phải vươn lên trong công tác quản trị điều hành ngân hàng. Về quản lý rủi ro, Việt Nam đang tiến hành thí điểm Basel II cho một số ngân hàng, dự kiến đến năm 2018 hoàn thành, trong khi thế giới đã ứng dụng Basel III. Do vậy, Việt Nam vẫn cần phải nổ lực rất nhiều để đuổi kịp chuẩn quốc tế trong hội nhập.

    Về mức độ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong hệ thống tài chính , hiện đã có khoảng 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, nhưng chỉ có 6 ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Sau khi hội nhập TPP, AEC, hi vọng số lượng ngân hàng 100% sở hữu nước ngoài sẽ tăng, lúc đó mức độ cạnh tranh mới thực sự lớn. Hiện nay chỉ 6% tiền gửi tại các ngân hàng này là tiền đồng Việt Nam, trong khi những nước khác trong khu vực thì khoảng 15 -20%.

    Một vấn đề bất cập nữa của Việt Nam là năng suất lao động của nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, rất thấp. Theo số liệu, Việt Nam chỉ bằng 1/3 Thái Lan, 1/5 của Malaysia, 1/15 của Singapore. Sau hội nhập AEC, cạnh tranh về nguồn nhân lực được dự đoán sẽ rất khốc liệt.

    (source)
     
  2. Loading...

    Similar Threads Forum Date
    Năng lực cạnh tranh cho Ngân hàng thương mại Việt Nam Ngân hàng Apr 11, 2016
    Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp Nov 11, 2014
    Những tính năng cần có của một phần mềm quản lý giao hàng Phân phối & Bán lẻ Jul 29, 2017
    10 kỹ năng nhà lãnh đạo cần có để thành công Quản trị doanh nghiệp Jul 23, 2017
    Tính Năng Include Command Buttons Tableau Jul 4, 2017

Share This Page